PTSG
Nhận Định
Thi Văn
Âm Nhạc
Hình Ảnh
Liên Lạc
Hoạt Động
Đại Hội Thế Giới
Sinh Hoạt 2007

Lời Kêu Gọi
Lễ Ra Mắt
Thư Ủng Hộ
Bạn biết gì về Hồ Chí Minh

Thỉnh Nguyện Thư
xin trả tên
Tổng Giáo Phận SàiGòn

English Section

Slide
Nhớ Sài Gòn Năm Xưa

   


Sài Gòn Muôn Thuở

Để kỷ niệm Ba Mươi Năm Sài Gòn Mất Tên


Nguyễn Phúc

 

      Tuy không phải là người sinh trưởng ở Sài Gòn nhưng tôi đã cư ngụ lâu năm tại thành phố này. Không bao lâu sau khi di chuyển vào Sài Gòn, tôi đã thích nghi được với cuộc sống rộn rã nơi đây và đã biết hòa hợp với những người xung quanh. Về sau, mến cảnh mến người, tôi không còn nghĩ đến chuyện dời đi đâu nữa, ngay đến chuyện về quê dưỡng già khi đến tuổi hưu trí cũng không còn tơ tưởng đến. Tôi tự cho mình là dân Sài Gòn, vui buồn với vui buồn của người Sài Gòn và cùng nhau chia sẻ những ưu tư hay hi vo.ng. Khi Sài Gòn mất tên và bị buộc phải mang tên của một kẻ chưa từng có liên hệ hoặc công lao gì với thành phố này thì, cũng như những người khác từng yêu mến Sài Gòn, tôi không khỏi cảm thấy phẫn uất và xót xa về sự tước đoạt này. Thật ra, danh xưng Sài Gòn tuy bị khai tử nhưng Sài Gòn vẫn sống trong tâm khảm của mọi người; hai chữ "Sài Gòn" vẫn thường được nhắc đến môt cách tự nhiên và công khai lúc chuyện trò, được kẻ trên các bảng hiệu và đề cập đến trong thư từ trao đổi giữa bạn bè và những người thân thuộc, còn tên mới chỉ được sử dụng để đề bì thư.

      Sài Gòn mà chúng ta thường nhớ đến là nơi mà dân chúng được sống tự do, hạnh phúc trong quang cảnh náo nhiệt của một thị thành vừa là một chốn phồn hoa đô hội vừa là một giang cảng rộn rịp tàu bè tứ xứ. Chứ không phải là cái Sài Gòn tiêu điều, xơ xác nơi đó người dân luôn luôn phấp phỏng lo sợ cho an ninh bản thân và gia đình mình suốt hơn mười năm sau ngày "giải phóng". Cũng không phải là Sài Gòn sau "Đổi Mới" khi mà người dân đươc "tự do làm ăn" nhưng không có "tự do làm người" như giáo sư Nguyễn Ngọc Lan đã viết trong cuốn Hẹn Thắp Lên (1).

 

Một chút lịch sử.

 

Trước khi gợi lại một vài nét đặc thù, dễ mến trong cuộc sống của người dân Sài Gòn thời đó, tưởng cũng nên nhắc lại tí chút về nguồn gốc và ý nghĩa của hai chữ Sài Gòn. Đãcó nhiều học giả Việt cũng như ngoại quốc nghiên cứu về vấn đề này: chẳng hạn, Việt có các ông Huỳnh Tịnh Của, Trương Vĩnh Ký, Lê Văn Phát, Vương Hồng Sển … Pháp thì có các ông Louis Malleret, Etienne Aymonier, Maurice Verdeille… mỗi vị đưa ra một giả thuyết. Tóm lại, có ba thuyết chính:

1. Thuyết của các ông Trương Vĩnh Ký: Sài Gòn do tiếng Khmer Prei Kor mà ra và có nghĩa là củi gòn;

2. Thuyết của ông Louis Malleret: Sài Gòn do tiếng Tây Ngòn, tức là Tây Cống phát âm theo giọng Trung Hoa và có nghĩa là cống phẩm của phía tây (tức là: cống phẩm của các vua Cao miên dâng lên vua Việt Nam);

3. Thuyết của ông Vương Hồng Sển: Sài Gòn do tiếng Thầy Nguồn tức là Đề Ngạn phát âm theo giọng Trung Hoa và có nghĩa là bờ sông cao trên có đê ngăn

nước (đây là cái bờ gạch cao xây dọc theo kinh Tàu Hủ ở Chợ Lớn).

Theo cố giáo sư Nguyễn Ngọc Huy thì tuy ba thuyết trên đây cái nào nghe cũng có cái lý của nó, nhưng không có cái nào có thể làm cho chúng ta thật thỏa mãn. Theo ông, có lẽ các tác giả của những giả thuyết trên đây không để ý đến cách đặt địa danh tại Nam Kỳ của người Việt bình dân đời xưa; đó là hoặc phiên âm một địa danh Khmer rồi "bỏ dấu" cho thành tiếng Việt, hoặc dịch nghĩa một địa danh Khmer sẵn có. Khi triều đình Việt Nam đặt ra các đơn vị hành chánh thì tiếng Hán Việt được sử dụng để đặt địa danh hoặc dịch môt tên nôm đã có của người bình dân. Mặt khác, các cụ ngày xưa không bao giờ ghép một tiếng Hán Việt như chữ Sài (củi) với một tiếng nôm là Gòn. Bằng vào một số sử liệu, giáo sư Huy đã sử dụng ý kiến của ông Lê Văn Phát theo đó người Thái gọi vùng Chợ Lớn ngày nay là Cái Ngon tức là Rừng Chổi Cây Gòn để cho rằng tên Sài Gòn là do ông bà ta phiên âm từ tiếng Thài Cai Ngon và "bỏ dấu" theo giọng Việt như thông lệ. Tuy nhiên, giải đáp của giáo sư Huy lại vấp phải nghi vấn là vùng đất đó nguyên là đất Chân Lạp vậy mọi địa danh phải dùng tiếng Khmer mới phải, cớ sao lại có chữ Thái lọt vào đây. Thành thử, lai lịch của hai chữ Sài Gòn vẫn chưa được xác định rõ ràng. Tuy vậy, có một điều có thể xác định được là vùng đất xưa có tên Sài Gòn chính là vùng Chợ Lớn ngày nay và Sài Gòn bây giờ lại là Bến Nghé (Ngưu Chữ) ngày xưa.

Theo lịch sử của cuộc Nam Tiến, vào năm 1620, nhân chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên gả con gái là công chúa Ngọc Vạn cho vua Cao Miên Chey Chetta II thì đến năm 1623 vua Cao Miên nhượng lại cho Việt Nam thêm một dinh điền ở Mô Xoài gần Bà Rịa ngày nay và thuận để chúa Nguyễn đặt những cơ sở thu thuế tại vùng Sài Gòn, Chợ Lớn ngày nay; lúc đó vùng này dân cư thưa thớt và chưa có mua bán gì nhiều. Người Việt chỉ di cư nhiều vào Nam Kỳ kể từ năm 1680 khi có lực lượng của ông Trần Thượng Xuyên đóng thường trực ở đó để bảo vệ cho họ. Nhưng mãi tới năm 1788 vùng này mới trở thành một nơi buôn bán sầm uất với khối người Hoa kiều tụ tập về đó sau khi Cù Lao Phố (Biên Hòa) bị quân Tây Sơn phá hủy. Vào hậu bán thế kỷ 19, Sài Gòn bắt đầu thực hiện công cuộc thành-thi.-hóa (urbaniser) và đến thế kỷ 20 đã trở thành một đô thị lớn nhất nhì ở Đông Nam A, nổi danh là "Hòn Ngọc Viễn Đông".

 

Một văn hóa bình dân.

 

      Theo lời một nhà khảo cứu về thành phố Sài Gòn thì hầu hết dân Sài Gòn đều thích sinh hoạt ở đường phố, nhất là trên lề đường, ngày cũng như đêm, trong lúc giữa đường xe cộ đủ loại, nào xe đạp, xe mô-tô, xe xích-lô, nào xe ngựa, xe hơi đủ kiểu qua lại không ngừng, ào ào như thác đổ. Đôi lúc, đèn xanh đèn đỏ ở các ngã ba, ngã tư bị mất điện, người đi băng qua đường vào những lúc đó thường gây trở ngại không ít cho sự lưu thông, nhất là khi người đó cứ xăm xăm đi tới, xe chạy mặc xe, nên thỉnh thoảng cũng có lúc xe húc phải người gây ít nhiều thương tích hoặc những vụ đấu khẩu kịch liệt giữa đôi bên. Để đề phòng tai nạn, tòa đô sảnh Sài Gòn đã thiết lập một cầu chui (overpass) dành cho người đi bộ ở phía trước chợ Bến Thành nhưng rất ít người bộ hành chịu đi qua cầu, hoặc vì vội vàng hoặc vì không muốn mất công hay thì giờ qua cầu, thành ra tiện ích này trở nên vô dụng. Rút cục cầu đã được tháo gỡ và có lẽ được mang đi bán đổ bán tháo cho những người buôn sắt vụn ở Chợ Lớn.

Sự ẩm thực của người Sài Gòn.

 

      Khác với Hà Nội hay Huế, Sài Gòn có rất ít người bán hàng rong dọc đường. Người bán hàng phần đông đã có nơi làm ăn riêng mà họ đã chọn và được phép sử dụng; tiền thuế phải trả sẽ rất phải chăng nếu người bán hàng tỏ ra "biết điều" đối với nhân viên thu thuế; họ bày hàng trên một cái bàn nhỏ hoặc một miếng ván kê trên hai ngựa gỗ hoặc xếp trong những rổ, rá đặt trên tấm bạt hay vải nhựa trải ngay trên lề đường.

      Với bản chất giản dị và cởi mở, nóng tính nhưng rộng rãi, người Sài Gòn rất thích ăn những món ăn bình dân được bày ê hề ở góc phố hoặc ngay trên lề đường. Họ không còn nhớ đến những câu châm ngôn cổ truyền khuyên chúng ta nên ăn uống như thế nào để có thể bảo vệ sức khỏe của mình. Chẳng hạn, có những câu bình dân như:

 

Cơm với cá như mạ với con (mạ=mẹ)

 

hoặc văn vẻ, bóng bẩy hơn:

 

Bệnh tòng khẩu nhập

 

      [Ắn uống (không điều độ) dễ sinh bệnh tật]

 

      [Ghi chú : Châm ngôn này có hai về; vế thứ hai `Họa tòng khẩu xuất' đại ý nói về sự việc được gọi là "vạ miệng"]

 

hoặc là một bài thơ ngắn, dễ nhớ:

 

Bán dạ tam bôi tửu

Bình minh nhất trản trà

Mỗi nhật cứ như thử

Lương y bất đáo gia

 

(Nửa khuya ba chén rươu

Sáng sớm một tách trà

Mỗi ngày cứ như thế

Thầy thuốc không lại nhà)

 

      Đối với họ, những gì giúp làm cho ta vui sống là quan trọng hơn hết, thế cho nên những thức ăn hợp khẩu vị cần cho họ hơn là món ăn bổ dưỡng. Chữ "nhậu" (có lẽ do hai chữ "ẩm tửu", phát âm theo tiếng Quảng Đông là "dâ.m/nhậm chẩu", rút gọn lại) trở thành khẩu hiệu ẩm thực của những người thích nhắm rượu với thức ăn khoái khẩu, đến độ quên luôn cả buổi ăn thường nhật.

      Cụ Nguyễn Khuyến ngày xưa uống rượu phải có bạn tri âm đối ẩm, không có bạn không thiết gì đến rượu:

 

Rượu ngon không có bạn hiền

Không mua không phải không tiền không mua

 

      Dân "nhậu" ngày nay cũng cần có "bạn rượu" nhưng không nhất thiết phải là bạn tri âm. Mỗi khi nghe hàng quán nào có rượu ngon, đồ nhắm tốt là rủ nhau dăm ba người tìm đến để chén chú chén anh và trò chuyện cho thỏa thích. Người Sài Gòn, giống như những người Nam khác, vốn không thích tù túng; họ thường ngồi ngoài trời mà đánh chén, trên mình vỏn vẹn chiếc áo may-ô và cái quần cụt (quần đùi) nếu gặp thời tiết nóng nực. Ngồi trên chiếc ghế đẩu trong tư thế thoải mái, họ bắt đầu nhập tiệc; không khí quanh bàn rượu mỗi lúc mỗi náo nhiệt hơn với những câu chuyện hài hước hay giật gân mà mọi người tranh nhau kể, xen lẫn với những tiếng "dô"và "uống đi" vô cùng hào hứng. Khi mỗi người đã "dô" chừng nửa tá bia BGI hay gần cả tá bia 33 là đã đến giai đoạn in vino veritas (tửu nhập ngôn xuất): một trong các tửu đồ, đột nhiên có ý nghĩ mình không thua kém gì các tài tử cải lương, bèn cất cao giọng hát mấy câu vọng cổ, tay chân múa may xem chiều rối loạn. Trước cảnh đó, điều cần thiết là phải có một bạn nhậu, ít say hơn, tình nguyện dìu anh tửu đồ quá chén đưa về nhà an toàn, đồng thời tránh con mắt tò mò của những người hàng xóm lắm chuyện..

      Để được thưởng thức những món ngon vật lạ thường được nghe nhiều người tán dương, họ không tiếc công tìm tòi khắp các chợ, các quán xa gần. Như vậy, thế nào các vị đệ tử Lưu Linh cũng sẽ "mò" đến Ngã Tư Quốc Tế, gần đường Bùi Viện cũ, để có cơ hội nhắm nhí những món lạ như môi cá tràu (cá lóc, cá quả), má cá trê, gan cá bống. Họ cũng sẽ qua miệt Nhà Bè, vào các nhà hàng nổi ở ngã ba sông Sài Gòn và sông Đồng Nai, để nhắm rượu với món đuông; con đuông thường sống ở cổ hũ (cổ, chỗ bạnh ra chứa mầm non của buồng trái) cây dừa nước hay cây chà là; trước khi chiên xào, phải ngâm đuông trong nước mắm mới đúng điệu. Hoặc họ đến phía sau chợ Tân Định nếm gỏi cá, một đặc sản miền Bắc đã được du nhập vào Nam theo bước chân của những người Bắc di cư sau ngày ký kết Hiệp Định Genève 1954. Khi nào muốn nhậu đồ biển tươi, họ sẽ tìm đến Cột Cờ Thủ Ngữ (ngày trước, người Pháp gọi là Pointe des Blagueurs) hay đến Tân Thuận (Pointe des Flâneurs); ở đó, họ sẽ được ăn những con sò, con hào tươi rói, những con cua và tôm càng mới lấy trong bồn nước ra đem nuớng than củi. Đối với những người ít tiền, họ không vì thế mà nhịn uống rượu. Lúc hứng, họ vẫn có thể say sưa với một đĩa thịt bò khô, mấy khô mực nướng, một ít tôm khô củ kiệu hay cùng lắm, một đĩa đậu phụng (lạc) rang.

      Không phải chỉ có đàn ông mới thích món ăn bình dân. Các bà, các cô cũng thường đến viếng những chỗ bán món ăn đó và không ngần ngại ngồi vào chiếc ghế đẩu hay, đôi khi, ngồi xổm ngay trên lề đường bên cạnh người bán hàng để thưởng thức những món ăn họ ưa thích. Việc ăn uống ở đường phố biểu lộ tính cách bình đẳng trong việc đối xử giữa khách hàng với nhau và cung cách tiếp khách của người bán hàng: khách ngồi, đứng cạnh nhau, không phân biệt sang hèn, già trẻ và đều được người bán hàng phục vụ tận tình như nhau. Những bà, những cô đi xe hơi có tài xế lái, ví như muốn ăn những món quà ngon có tiếng của bà Ba Bủng thì phải xuống xe "lội bộ" như những người khác vào bên trong chợ Bến Thành để thưởng thức tô (bát) bún riêu nóng hổi, nêm nấu vừa miệng, kèm rau ăn ghém và thỉnh thoảng, nếu cần, gọi thêm chút chanh ớt hay tí nước dùng (nước lèo); và nếu cảm thấy bụng vẫn còn lỏng lẻo thì gọi thêm món bún thịt nướng thơm lừng ăn không biết chán. Sau những bữa điểm tâm kiêm ăn trưa (brunch) như vậy, hai bên đều hài lòng và hẹn nhau tái ngộ. Trẻ con ít thích ăn những món ăn của người lớn, chúng thường xin tiền cha mẹ mua bánh kẹo nhưng đôi lúc, chúng cũng mua những quà chúng ưa thích như ốc gạo, ốc hương. Tụi nhỏ thường chụm năm chụm ba ở một góc đường hay một gốc cây, hí hoáy dùng gai bưởi moi mấy con ốc - ốc sông hay biển tùy mùa - ăn một cách ngon lành; đây là những con ốc đã được luộc chín với lá tía tô nhằm đề phòng chứng mề đay do các động vật nhuyễn thể (ốc, sò, mực) gây ra.

      Ngoài những thức ăn cần phải nấu nướng, còn có vô số trái cây đủ loại để ăn ngoài bữa ăn, ăn tráng miệng, nấu chè, làm mứt và thức uống. Sài Gòn là thủ phủ của một vùng đất được thiên nhiên ưu dãi, đất đai màu mỡ, cây ăn trái sai quả, rau đậu tươi tốt sum suê. Ta chỉ cần đến Chợ Cầu Ông Lãnh là có thể ý niệm được số lượng rau quả mà Lục Tỉnh cung cấp cho Sài Gòn: dưa hấu, dừa, mít, sầu riêng (tùy mùa), cam, quít, vải, bưởi bòng, măng cụt, vú sữa, chôm chôm… chất lên như núi hoặc xếp trong hàng trăm cần xé. Đó là chưa kể số lượng khổng lồ rau đậu, thịt heo thịt bò, cá, tôm, gà vịt… cần thiết cho các cửa hàng ăn, các quán ăn và những nơi bán thức ăn bình dân. Mà Chợ Cầu Ong Lãnh chỉ là một trong bao nhiêu chợ cỡ lớn, cỡ nhỏ rải rác khắp vùng Sài Gòn-Chợ Lớn.

      Cuộc sống tự do, vô tư lự của người Sài Gòn ưa tìm vui thích trong việc phục vụ thần khẩu cứ thế diễn ra trên khắp các phố phưòng, trong các đường nhỏ, từ sáng đến khuya với hai cao điểm là buổi chiều vào lúc tan sở và sáng sớm tinh sương vào lúc đa số dân thành phố bắt đầu thức giấc.

      Buổi chiều vào lúc các công, tư sở, các xí nghiệp, nhà máy, công trường… hết giờ làm việc, hàng nghìn thầy thợ đổ xô nhau đến các quán, các quầy rượu đề "làm" một vài cốc bia khai vị trước khi trở về nhà ăn cơm tối. Đôi khi, vui anh vui em, giờ khai vị trở thành một tiệc vui thực sự, với sự tham dự của nhiều bằng hữu và nếu "khổ chủ" không đủ tiền thanh toán thì chỉ đến "biên bông" cuối tháng trả là cùng! Khổ nỗi, phiếu tính tiền của chủ quán thường khi lại vượt quá dự liệu chi tiêu trong gia đình. Nhưng không hề chi! Với tính dễ dãi và hào phóng của người Sài Gòn, thế nào rồi cũng có một Mạnh Thường Quân trong số các thân hữu giúp đỡ gỡ rối cho.

      Vào sáng sớm tinh sương, dân đi làm lục đục thức dậy. Vào thời còn Đại Thế Giới ở Chợ Lớn, giờ đó cũng là giờ các sòng bạc đóng cửa để nghỉ ngơi; hàng nghìn con bạc, vừa mệt vừa đói, túa ra đường tìm cái ăn cho đỡ đói và hồi phục sức khoẻ hầu thử thời vận phen nữa trong canh bạc đêm tới. Sau khi Đại Thế Giới bị cấm hoạt động, trong số người ăn điểm tâm ngoài đường vào sáng sớm tuy không còn những con bạc ở Chợ Lớn nhưng trên toàn vùng Sài Gòn-Chợ Lớn thì lại có thêm số người Bắc di cư; họ phần lớn là những người lao động phải đến sở làm đúng giờ nên cần ăn vội ăn vàng, nhưng phải ăn cái gì thật bổ dưỡng cho có đủ sức để còn phải lo làm việc suốt một ngày dài. Phần đông hoặc ăn hủ tiếu hoặc phở, một số nhỏ chọn mì nước. Hủ tiếu (nguồn gốc danh từ này là "quả điều" phát

âm theo tiếng Quảng Đông là "cổ thiều") nguyên là món ăn của người Hoa được "Miên hóa" thành hủ tiếu Nam Vang và "Việt hóa" thành hủ tiếu Mỹ Tho. Phở trước gọi là "Phở Bắc" vì du nhập từ miền Bắc vào, sau được gọi ngắn là phở; từ khi có hơn một triệu người Bắc di cư vào Nam, phở đã chiếm địa vị của hủ tiếu như là món ăn được nhiều người thích ăn hơn. Phở không những là món ăn sáng mà còn được chuộng như món ăn trưa hay ăn khuya sau giờ xem hát cải lương hay chiếu bóng. Phở được bán ở ngoài đường và tại các tiệm phở. Trong các tiệm phở nổi tiếng phải kể đến Phở Hòa, Phở Lý Thái Tổ, Phở Bảy Chín, Phở Tàu Bay Trương Minh Giảng, Phở Gà Hiền Vương….Phở bán ngoài đường cũng chỉ kém phở tiệm đôi chút; được như vậy là vì người bán có một cái xe đẩy trang bị đầy đủ dụng cụ, chén bát, bánh phở, thịt, rau, đồ gia vị v.v... và đặc biệt, một cái nồi súpde để hâm nóng nước dùng. Những người bán hủ tiếu, mì nước…cũng cần có cái xe như vậy. Khách cần ăn trưa hay ăn tối ở ngoài đường mà không muốn ăn phở, hủ tiếu, mì nước thì có thể dùng bò lụi, chạo tôm, nem nướng… bày bán khắp nơi; có những phố chỉ chuyên bày bán những thức đó, mùi thơm tỏa ra ngào ngạt. Giữa những buổi ăn chính, khách đi đường có thể ghé lại các xe bán chè, bán cháo, nước giải khát để thưởng thức chè sâm-bồ-lường, chi-mã-phù, chè đậu, chè trôi nước…, cháo gà, cháo vịt, cháo lòng…; nước giải khát thì có nước ngọt, nước dừa tươi, nước mía, nước rau má, nước trái cây, v.v…

      Sài Gòn là một thành phố có nhiều bóng mát nhất vùng nhờ số cây trồng dọc đường và ở những nơi công cộng. Những người bán hàng thường chọn những cây to rợp bóng để làm "đất chiếm hưởng", vừa tiện cho mình vừa tiện cho khách hàng. Ngày trước, vào những thời kỳ kinh tế phồn thịnh, công ăn việc làm không khó tìm, đồng tiền dễ kiếm, người ta cũng thường thấy những người đạp xích-lô gác xe dưới bóng cây để nghỉ trưa, chờ đến lúc mát trời mới lại bắt đầu đạp xe đi kiếm khách.

      Việc mua bán đồ ăn bình dân dọc đường phố, ngõ hẻm... là những hoạt động kinh tế biên tế (marginal) nhưng rất quan trọng đối với dân Sài Gòn vốn ưa sinh hoạt tự do ngoài trời, giữa những đám đông trong đó không thiếu gì bạn bè hay người quen để cùng nhau trò chuyện hay đối ẩm.

      Nhà khảo cứu nói trên, trong một bài viết bằng Pháp ngữ, cho rằng lối sinh hoạt của người dân Sài Gòn biểu hiệu "une culture de rue"; "rue" có nghĩa là đường phố; "rue" cũng biểu trưng cho giới bình dân (2). Vậy, thay vì lý giải "une culture de rue" thật sát nghĩa, ta có thể tạm hiểu rằng tác giả muốn nói đến một văn hóa đậm nét bình dân. Sắc thái bình dân cũng thể hiện trong sinh hoạt tâm linh, trong các thú tiêu khiển và cách chữa bệnh của người Sài Gòn. Việc cúng bái, cách giải trí của dân Sài Gòn – Phép trị bệnh cổ truyền

      Tại cửa Nam vườn Tao Đàn (xưa gọi là vườn Pờ Rô) có một miếu thờ mà đông đảo các bà, các cô thường đến cúng bái với tất cả lòng thành; trên bàn thờ đặt năm thứ trái cây (ngũ quả) là: "mãng cầu, sung, dừa, đu đủ và xoài"; gọi gon lại là: "cầu, sung, dừa, đủ, xoài"; đọc trại đôi chút thì thành ra: "cầu xin vừa đủ xài". Vốn tính bình dị và thực tiễn, người Sài Gòn tin có sự cảm thông giữa giới vô hình và người trần thế; họ hi vọng là nếu có lòng thành thần thánh sẽ vui lòng giúp cho miễn là ước mong hay nguyện vọng của họ không quá đáng (ví dụ: "cầu xin vừa đủ xài"). Cũng với cung cách này, họ đến trước bàn thờ tổ tiên thắp hương và thành khẩn khấn vái cầu xin ông bà độ trì cho con cháu mỗi khi họ gặp khó khăn không khắc phục được.

      Dân chúng Sài Gòn nói riêng và dân chúng miền Nam nói chung là một bộ phận của nhân dân Việt Nam thành hình trong cuộc Nam Tiến, trong thời gian khoảng bốn thế kỷ qua, và như thế được coi là tương đối mới so với nhân dân miền Bắc và miền Trung. Thành phần trước tiên gồm có số dân, phần đông sống ở lãnh địa các chúa Nguyễn, đã di cư từ miền Trung vào những vùng đất của Chiêm Thành và Chân Lạp bị ta chiếm đóng hoặc được nhượng lại; họ là những người có chí mạo hiểm, không sợ gian khổ và lam sơn chướng khí. Họ đã khai hoang, lập ấp và biến những vùng hoang vu, bùn lầy hay khô cằn thành vùng đất đai màu mỡ. Con cháu của những người khai phá này đã thừa huởng những đức tính của tổ tiên như tính quả cảm, cần cù và khả năng thích ứng với môi trường mới. Trong thời gian định cư ở đất mới, họ đã đồng hóa hoặc chung sống hòa bình với các sắc dân

địa phương gồm dân Chàm, Miên v.v... và với người Hoa, người Ấn… và nhờ đó đã tạo thành một tập hợp dân chúng đa dạng, năng động và đầy sinh lực trong đó dân Việt dĩ nhiên là thành phần tiền phong và tháo vát hơn hết. Trong sự tiếp xúc giữa nhiều sắc dân có văn hóa khác nhau, mỗi sắc dân có lối tế tự riêng của mình, kết quả là có rất nhiều am miếu, đền đài với lễ nghi cúng bái khác nhau. Dọc theo vài con đường phụ, hiện còn những cái am nhỏ thờ những vị thần vô danh hay đã bị quên lãng, giống như trường hợp những bình vôi đặt ở gốc những cây đa cổ thụ trong các làng miền Bắc; đó là vết tích của những nơi thờ phụng xưa mà những người tế tự nay không còn hoặc đã thiên cư tới nơi khác.

      Hai tôn giáo lớn được thành lập vào tiền bán thế kỷ 20 ở Miền Nam là Cao Đài giáo và Phật giáo Hòa Hảo. Tín đồ phần đông là người Nam, phần nhiều là người bình dân ở các tỉnh mà người trí thức ở thành thị cũng không ít.

      Cao Đài giáo - cũng gọi là Đại đạo Tam kỳ phổ độ - là một tôn giáo ra đời ở Việt Nam từ năm 1926 do một nhóm trí thức ở Sài Gòn nhân thường cầu cơ nên được tiếp xúc nhiều với các Tiên Thánh mà lập ra nên không có Giáo chủ. Đạo có tính chất Đại đồng, lấy Tam Giáo quy nguyên (3 tôn giáo lớn ở Á Đông là Khổng giáo, Lão giáo và Phật giáo đồng quy về nguồn gốc là cái Lý duy nhất bổn sơ) và Ngũ chi phục nhất (Nhân đạo, Thần đạo, Thánh đạo, Tiên đạo và Phật đạo đều trở về cái Lý duy nhật bổn sơ) làm tiêu ngữ. Đạo thờ đấng Chí tôn là Huyền khung Cao Thượng đế Ngọc Hoàng Đại Thiên tôn (tức Trời), lấy "CON MẮT" tiêu biểu sự sáng suốt của đấng Chí tôn và dùng Cơ bút để lãnh ý đấng Chí tôn cùng các Tiên Thánh trong việc hành đa.o. Đạo chia nhiều phái và có chi phái khắp Việt Nam; hai phái lớn nhất có thánh thất ở Tây Ninh và Bến Tre (theo Việt Nam Tự Điển của Lê Văn Đức).

      Vị giáo chủ Phật giáo Hòa Hảo danh xưng là Huỳnh Phú Sổ; sinh tại làng Hòa Hảo, tổng An Lạc, quận Tân Châu, tỉnh Châu Đốc. Theo sách của Đạo, từ nhỏ Ngài là một người bệnh hoạn, luôn luôn đau yếu nên không theo đuổi việc học quá ban tiểu học; nhưng một hôm có một đạo từ quang chiếu vào mình Ngài, làm cho Ngài bất tỉnh, khi tỉnh ra thì hoàn toàn biến đổi từ thể xác đến tinh thần. Đứng ra làm thầy trị bệnh với nước lã, giấy báo, dây chuối, dây bố v.v... mà bệnh nào cũng lành; thêm có óc thông minh khác thường, quán thông vạn vật. Được tôn xưng là Phật Sống, Ngài bắt đầu truyền đạo ngày 18 tháng 5 năm kỷ mão (1939) thu hút rất nhiều tín đồ ở Hậu Giang và mất vào cuối năm Ất Dậu (1945). Khác với đạo Cao Đài, Phật giáo Hòa Hảo không chuộng lễ lạc huy hoàng và phức tạp; trái lại, chủ trương trở về với bản chất đơn thuần và tinh khiết của Phật giáo nguyên thủy bằng việc tụng niệm, tham thiền và chay ti.nh. Đạo không xây cất chùa chiền, tăng chúng không phân định đẳng cấp.

      Các tín đồ Cao Đài, Hòa Hảo sống hiền hòa, chỉ lo cúng bái, cầu nguyện cho quốc thái dân an, cầu xin phước trạch cho gia đình, cho xóm giềng. Những bài kinh cầu nguyện của họ nghe như bài vè, bình dị và chất phác. Các địa phận Cao Đài, Hòa Hảo là những nơi yên ổn, người dân chăm lo làm ăn, cuộc sống thật an bình.

      Trong số những người bình dân, cũng có những người theo đạo Phật hay Thiên Chúa giáo; những người này vẫn đến chùa và nhà thờ vào những ngày lễ của tôn giáo mình như những phật tử và con chiên thuộc các giới khác.

      Song song vời sự sinh hoạt tâm linh ấy, có rất nhiều trò vui, nhiều trò giải tri diễn ra thường xuyên ở những địa điểm khác nhau, khi thì bên vệ đường, khi tại một công viên. Các trò vui hay trò giải trí đem lại những trận cười, những giờ phút thoải mái sau những ngày làm việc mệt nhọc; các trò chơi khác phần nhiều có ăn thua bằng tiền; nhưng cái đó không hề chi; nếu có thua thì cũng có ăn; ngoài ra, thỉnh thoảng cũng cần có chút ít cảm xúc mạnh như hồi hộp khi chờ đợi, phấn chấn khi được, thất vọng khi thua, đó là những điều làm cho cuộc đời bớt tẻ nha.t. Vả lại, muốn ăn thua to thì phải vào các sòng bạc (casino) hoặc đến tư gia hay dinh thự của các ông lớn, bà lớn; còn bài bạc ngoài đường chỉ có ăn thua nhỏ mà thôi. Những trò chơi có đánh cuộc như trò chọi cá thia thia hay chọi (đá) gà chẳng hạn, được khá đông người tham dự người lớn có, trẻ con có; địa điểm được chọn thường là một con đường nhỏ trong một khu dân cư xá trung tâm thành phố hoặc một chỗ thoáng, dưới bóng cây, với sự chấp thuận mặc nhiên của cảnh sát. Một trò chơi khác, diễn ra ở lề đường, là trò bầu cua cá cọp; trẻ con rất thích; đặc biệt, các học sinh sau khi tan trường thường ghé lại đánh chơi. Cách chơi dụng xảo thì có bài ba con (ba lá); đây là lối cờ bạc do một người cái cầm ba lá bài cào, tráo qua tráo lại một vài lần rồi úp xuống cho người chơi đặt tiền; người chơi ít khi nào ăn mà phần lớn là thua sạch túi vì người cái dùng xảo thuật gạt người chơi với sự tiếp tay của người a tòng. Nói cho đúng, cũng có bài bạc thật sự ngoài các sòng bạc và môn cờ bạc được nhiều người biết đến là chơi đề. Cách chơi là dùng trí đoán con bài mà nhà cái sẽ xổ ra để đặt tiền. Có loại đề 12 con, đề 36 con và đề 40 con. Đây là môn cờ bạc do người Hoa bày ra và hầu như người Sài Gòn nào cũng thích chơi vì tiền chung lớn gấp bội tiền đặt; ví dụ như với đề 36 con, người trúng đề sẽ được chung một số tiền lớn bằng 30 lần tiền đặt.

      Ngoài những trò chơi trên, có một trò chơi khác kín đáo hơn, không dùng đến lá bài, và người chơi phần lớn là các bà. Đó là chơi hụi: mươi, mười hai người họp nhau đóng hằng kỳ (thường thường là mỗi tháng) một số tiền cho người chịu trách nhiệm (người cái) để người này trao lại cho người đã bắt thăm trúng hoặc đã bỏ thăm tình nguyện chịu lời cao hơn hết. Nhìn từ một góc độ khác, chơi hụi không phải là đánh bạc có ăn thua mà thường thường chỉ là một cách để có được một số tiền lớn hầu dùng vào việc cần như làm vốn buôn bán chẳng hạn. Tại các làng ngoài Bắc, nhóm người chơi họ để gây vốn được gọi là hội tư cấp.

      Mỗi khi Tết đến lại có hội hè và nhiều trò giải trí khác, như múa lân, đốt pháo, v.v… Các tiệm ăn, quán nhậu không ngớt thực khách ra vào; các rạp chiếu bóng, rạp hát đông nghẹt người xem. Những ngày trước Tết là thời gian rất nhộn nhịp; chợ búa đầy ứ thịt thà, gà vịt, trái cây đủ loại, người mua tha hồ mà chọn lựa, phố xá náo nhiệt hẳn lên do sự hiện diện đông đảo của những người đi sắm Tết. Khu chợ hoa dọc đại lộ Nguyễn Huệ là cả một rừng hoa, nổi bật nhất là hoa mai (3), hay hoàng mai, cánh vàng rực rỡ; đó là chưa kể hàng trăm cây quất, cây cảnh, cây bonsai, những hòn non bộ. Người đến ngắm hoa chen chúc với người mua hoa. Mua gì thì mua nhưng cũng phải có một đôi cành mai trưng bày ở phòng khách nhà mới có không khí Tết và nếu có thêm một vài giò thủy tiên thì lại càng tốt.      

      Một địa điểm được nhiều người thường đến thăm viếng là Lăng Ông, nơi để mộ và cất điện thờ Tả Quân Lê Văn Duyê.t. Đây là nơi tập trung của các thầy lang chuyên trị liệu bằng phương pháp cổ truyền như bầu giác, chích lể, cạo gió, đấm bóp. Nơi đây còn có những bà thầy bói bài, xem chỉ tay, những ông thầy đoán số tử vi, xem tướng tay, chiết

tự, bói sách…lại cũng có những thầy mà tài năng cao siêu đến độ bảo với người xem bói, chắc nịch như đinh đóng cột, những câu đại khái như:

 

"Số cô không giàu thì nghèo,

Sinh con đầu lòng không gái thì trai"

     

Trong khi đó trong điện thờ, các bà các cô đến trước bàn thờ đức Tả Quân thắp hương khấn vái rất thành khẩn trước khi xin xăm gia đạo, số mệnh hay thời vận.

 

      Đến đây, sau nhiều cố gắng nhằm gợi lại hình ảnh của Sài Gòn ngày trước, tôi vẫn do dự, không muốn nói dứt khoát "Sài Gòn của chúng ta là thế đó". Bởi vì tôi thấy vẫn chưa nói được lý do tại sao Sài Gòn lại chiếm một vị trí đặc biệt trong tâm hồn của chúng ta. Phải chăng vì ở đó chúng ta đã có một cuộc sống thoải mái, dư dật? Chắc là không phải vì, ngoại trừ một thiểu số, chúng ta phần đông đều "lương ba cọc ba đồng", phải "thắt lưng buộc bụng" mới khỏi nợ nần; đó là chưa kể một số quân nhân trong chúng ta phải chiến đấu ở mặt trận, trải qua bao nhiêu gian khổ nhưng không bao giờ phàn nàn vì ý thức được chúng ta có bổn phận bảo vệ mảnh đất tự do còn lại của đất nước. Hay, phải chăng chúng ta được tự do ăn nói, đi lại, tự do cư trú, v.v…? Thì tại nơi nào ở Miền Nam, chúng ta đều có những quyền đó chứ không riêng gì ở Sài Gòn. Hay là vì khí hậu ở Sài Gòn ôn hòa hơn các nơi khác, ban ngày dù nóng nực đến bao nhiêu ban đêm vẫn mát mẻ, dễ chịu? Hoặc là vì Sài Gòn có thể cung cấp đầy đủ những gì đáp ứng được nhu cầu vật chất và tinh thần của chúng ta? Hay là vì ở Sài Gòn chúng ta có nhiều bạn bè, người thân luôn luôn gần gũi chúng ta để chia sẻ vui buồn cùng chúng ta, an ủi chúng ta khi sa cơ lỡ vận, khuyên can khi chúng ta ngã lòng và có ý định buông xuôi? Quả có thế thật. Thế thì hãy thêm vào đó thái độ hiếu khách, thân thiện, dễ dãi của người dân Sài Gòn đối với những người từ miền Bắc hay miền Trung. đến định cư tại Sài Gòn. Ngoại trừ chuyện người Sài Gòn gọi đùa người Bắc là "dân rau muống" và người Bắc "trả đũa" bằng cách gọi dân Sài Gòn là "dân giá sống", nhưng vì cả hai bên đều không có ác ý, không kỳ thị nên tuyệt nhiên không có sự chia rẽ Nam Bắc và hàng trăm nghìn người Bắc, người Trung đã thích ứng dễ dàng với cuộc sống ở nơi mà họ coi là quê hương thứ hai của họ. Có thể là tất cả các yếu tố đó hợp lại đã làm cho chúng ta coi Sài Gòn như một người thân, khi gặp mặt thì tay bắt mặt mừng khi xa cách thì mong ngóng nhớ nhung. Ngoài ra, nếu có yếu tố vô hình sắc hay tế nhị nào khác nữa thì đó là một điều ngoài cảm nhận của tôi.

 

   
Phim Tài Liệu
Sự Thật Về
Hồ Chí Minh

Tin Tức

Lịch Trình Ra Mắt

Bài Liên Quan

BẠN MUỐN CÓ DVD?
hinhbiadvd


Phong Trào Quốc Dân Đòi Trả Tên Sài Gòn
P.O. Box 17-516, Greenlane. Auckland - New Zealand
P.O. Box 6005, Torrance, CA 90504 - USA
Email: s4s@saigonforsaigon.org