![]() |
||||||||||||||||||||||
Thỉnh Nguyện Thư
|
Từ Sài GònĐến Hồ Chí MinhTrần Nhật Kim: 12-10-2005 Cuộc di cư của một triệu đồng bào miền Bắc vào Nam năm 1954, vì không chấp nhận chế độ cộng sản, là cuộc di cư vĩ đại nhất của lịch sử dân tộc. Khi đó tôi tự hỏi, tại sao phải có cuộc di cư ngay trên quê hương của mình. Những người ra đi phải để lại miền Bắc cả mồ hôi và nước mắt, với sự chia lìa chồng vợ, cha con. Cuộc chia cắt đất nước có phải là giải pháp trọn vẹn cho dân tộc, khi mà hàng triệu người, kể cả cầm súng lẫn tay không, đã đổ máu và nước mắt trên mảnh đất thân yêu này, để dành lấy đời sống Tự do và Dân chủ? Đối với một triệu người miền Bắc di cư xuống miền Nam, một cuộc “Nam tiến” bất đắc dĩ, bắt đầu một cuộc sống mới nơi miền đất lạ. Nhưng chính nhờ cuộc di cư này đã nối kết được ba miền Bắc Trung Nam, thoát khỏi ảnh hưởng chia để trị từ thời thực dân. Một phần đất từ Bến Hải đến Cà Mâu mang tên một quốc gia mới, nước Việt Nam Cộng Hòa. Một đất nước đã hòa hợp từ phong tục đến tập quán, nhưng quan trọng hơn cả là tạo dựng được nếp sống xã hội đa dạng, cùng phát triển về cả hai phương diện bồi đắp văn hóa dân tộc và kiến thiết xứ sở. Sài Gòn trở thành thủ đô của miền Nam, là vùng đất hứa cho những con người có nhiệt tâm khai phóng, tiềm ẩn một nếp sống Tự do, không chấp nhận bất cứ một mẫu mực khắc nghiệt nào. Sài Gòn là trái tim và cũng là niềm hy vọng của người miền Nam. Từ đó, miền Nam có một nếp sống phong phú và gắn bó hơn trước họa cộng sản. “Sài Gòn” mang một âm hưởng vui tươi, thể hiện một nếp sống giản dị, phóng khoáng. Sài Gòn đã trở thành một nơi hò hẹn, một ngã tư quốc tế, hội nhập văn minh Tây phương nhưng vẫn bảo toàn, trân qúy văn hóa cổ truyền của dân tộc. Sài Gòn là trục nối các vùng đất nổi danh “Hong Kong – Sài Gòn – Singapour”, một sự liên kết kỳ diệu, một nơi gặp gỡ của hai nền văn hóa Đông-Tây. Vì vậy, bất cứ một đổi thay nào của vùng đất này cũng trở thành lạc lõng, vô nghĩa. Sài Gòn nổi danh là “Hòn ngọc Viễn Đông” không phải chỉ vì tính chất hoa lệ của vùng đất này, mà sự đóng góp đặc biệt để danh xưng Sài Gòn trở thành bất diệt, là nhờ “Người Sài Gòn”. Đặc tính “Người Sài Gòn” ấy đã lưu lại trong lòng người tới đây một nét dịu dàng, dễ dãi nhưng trung thực. Cũng nhờ tính “Người Sài Gòn” ấy, đã chan hòa một thứ tình cảm quyến luyến của một người mẹ hiền, dang rộng vòng tay ấp ủ những đứa con lạc lõng. Và chính “Người Sài Gòn” ấy cũng thể hiện sự mời gọi của một người tình tha thiết chung thủy. Sài Gòn là một nơi chốn đượm tình yêu thương. Vì vậy, xa Sài Gòn vẫn nhớ, vẫn mong muốn trở về. Có người hỏi tôi, thế còn Hà Nội? Phải, tôi luôn nhớ Hà Nội, nơi tôi sinh ra và lớn lên. Nét đẹp của Hà Nội đã ghi đậm lòng người những cảm súc, những quyến luyến khó quên. Hà Nội tuy cổ kính nhưng tiềm ẩn vẻ thơ mộng, trang trọng nhưng hàm chứa nét trữ tình diễm lệ. Vì vậy, Hà Nội có một sắc thái riêng biệt. Hà nội, đất ngàn năm văn vật, là cái nôi văn hóa của dân tộc. Một nơi ghi đậm những dấu tích oai hùng của tiền nhân để lại trên đường dựng nước và giữ nước. Hồ Gươm rùa thần dâng kiếm. Gò Đống Đa tướng giặc phải cúi đầu. Bạch Đằng giang nổi sóng phá tan binh hùng tướng mạnh, trăm trận trăm thắng, của đoàn quân kiều hùng phương Bắc... Tinh thần dân tộc kiên cường, dũng cảm là nhờ ở đó. Rồi đến đền đài miếu mạo đã tô điểm văn hóa dân tộc thêm phong phú. Tất cả những dấu tích ghi trên là tấm gương sáng cho hậu thế noi theo và cũng là niềm kiêu hãnh của con dân đất Việt. Nhưng sau năm 1954, Hà nội đã thay đổi. Người dân Hà Nội đã mang nặng một nỗi uất nghẹn, câm nín ngậm ngùi. Tôi không quên được lời thơ của Trần Dần, một nét vẽ tang thương của khúc quanh lịch sử Việt Nam: ...Tôi đi giữa trời mưa đất Bắc Đất hôm nay tầm tã mưa phùn Bỗng nhói ngang lưng máu nhỏ xuống bùn Lưng tôi có tên nào chém trộm? A, cái lưỡi dao cùn! Không đứt được mà đau Chúng định chém tôi làm hai mảnh Ô! Cả nước! Nếu mà lưng tôi lạnh Hãy nhìn xem: có phải vết dao? Không đứt được mà đau! Lưng Tổ quốc hôm nay rớm máu... (Trăm hoa đua nở: Nhất định thắng, Hà Nội-1/1956) Người Hà Nội bị ám ảnh bởi ngôi nhà mồ giữa lòng thành phố, như đang mang vòng tang trắng. Tôi đã đặt câu hỏi, tại sao người ta lại xây một nhà mồ giữa trái tim thành phố? Một cấu trúc góc cạnh thô cứng, mầu sắc ảm đạm chen giữa các công trình có đường nét nghệ thuật dịu dàng. Một cấu trúc chỉ để lộ tính cách không tương xứng, thiếu hòa hợp trong toàn thể. Sự hiện diện của ngôi nhà mồ như một điềm báo về sự bất hạnh của đất nước này. Đối với miền Nam, sau ngày 30-4-1975, 3 triệu người bỏ phiếu bằng chân đưa nhau ra biển, được chế độ Hà Nội khoác cho một tên mới, “khúc ruột thừa ngàn dậm”. Những người mà đảng cộng sản Việt Nam đã sua đuổi và không tiếc lời sỉ nhục là những tội đồ phản bội Tổ quốc. Sài Gòn cũng đổi tên là thành phố Hồ Chí Minh. Năm 1954, vết chém ngang lưng bằng lưỡi dao cùn không làm đứt lìa thân thể Tổ quốc. Nhưng vết chém ngày 30-4-1975 đã phân thây Tổ quốc làm nhiều mảnh bởi đám người chiếm đoạt. Mặc dù có cùng một quốc gia nhưng không chung một Tổ quốc. Vì Tổ quốc của họ là thế giới cộng sản Nga Tầu. Thành phố Hồ Chí Minh chỉ là một nhà tù khổng lồ, không gợi cho người tới đây một cảm giác an toàn, một tấm lòng cởi mở. Một nếp sống mới chỉ thể hiện sự chụp giật của những ý đồ đoản kỳ, chân trước chân sau, không thể vực dậy một đất nước đang trên đà suy thoái. Tệ nạn xã hội ngày một gia tăng, đã làm thành phố Hồ Chí Minh càng thêm sa đọa, nhơ nhớp. Trước cảnh tan hoang của quê hương và sự đói khổ của người thân thuộc, “Khúc ruột thừa ngàn dậm” đã trở về cưu mang, đùm bọc. Sự trở về của những người xa quê chỉ tô đậm tình cảm quyến luyến đối với vùng đất thân yêu mà họ đã sống, mặc dù trong lòng họ chán ghét chế độ đương quyền. Liệu những nạn nhân của chế độ cộng sản có thể quay lưng lại dĩ vãng, khi mà đảng cộng sản Việt Nam vẫn mạnh tay áp bức người dân trong nước? Ngày 30-4-1975, khi bước chân của kẻ xâm lăng đặt trên vùng đất miền Nam, người dân Sài Gòn đã có nhận xét:: “chế độ cộng sản Hà Nội khởi đầu một sự thất bại ngay khi vừa chiến thắng.” Bạo quyền Hà Nội chưa áp đặt được gông cùm “cộng sản – xã hội chủ nghĩa” lên đầu người dân miền Nam, thì chủ thuyết cộng sản đã trở thành lỗi thời. Một chủ thuyết bị chính đất nước khai sinh ra nó phế bỏ, bị gạt ra ngoài lề tiến trình dân chủ của lịch sử nhân loại. Trong tâm tư của “Người Sài Gòn”, Sài Gòn vẫn là lẽ sống, vẫn là nhịp thở trong trái tim của họ, mặc dầu bị chiếm đoạt, thăng trầm. Nét đặc biệt của “Người Sài Gòn” là lạnh nhạt với đám tay chân của “bác Hồ” và mong chờ ngày Sài Gòn yêu thương trở lại.
|
|
||||||||||||||||||||
|
||||||||||||||||||||||